Khi người gieo quẻ đứng trước ngã rẽ công việc, các câu hỏi thường gặp:
- có nên nhận lời mời chuyển sang công ty mới hay không?
- đã đến lúc khởi nghiệp hay cần tích lũy thêm?
- công việc hiện tại có còn phù hợp?
Quẻ Càn (Càn 乾) trong Kinh Dịch không trả lời thẳng "nên hay không nên". Quẻ chỉ ra nhịp thích hợp cho hành động — biết nhịp, người gieo tự ra quyết định tỉnh táo.
01Lời Kinh — nguyên văn
Lời Kinh
乾元亨利貞.
Dịch âm: Càn nguyên hanh lợi trinh
Dịch nghĩa. -Càn: Đầu cả, hanh thông,lợi tốt,chính bền
Nghĩa: Quẻ Càn tượng trưng cho Trời, có bốn đức tính lớn: Nguyên (bắt đầu, sáng tạo), Hanh (thông suốt), Lợi (có lợi), Trinh (bền vững, chính trực).
02Truyện Trình Di — luận giải truyền thống
Truyện của Trình Di : Đời Thượng cổ thánh nhân bắt đầụ vạch ra tám Quẻ, đạo của ba Tài đủ rồi, nhân đó lại trùng điệp lên cho hết các sự biến đổi của gầm trời. Cho nên, sáu vạch thành một quẻ, hai hình Càn thì là quẻ Càn. Càn tức là trời, chữ “trời” chỉ về hình thể của trời, chữ “Càn” chỉ về tính tình của trời. Càn nghĩa là mạnh, mạnh mà không nghỉ gọi là Càn. Ôi! Trời gộp lại, là Đạo, cái mà “trời cũng không thể sai trái” đó vậy; nếu nói tách ra, thì về phần hình thể gọi là Trời, về phần chủ tể gọi là Đế, về phần công dụng gọi là Quỉ thần, về phần diệu dụng gọi là Thần, về phần tính tình gọi là Càn. Càn là đầu muôn vật, cho nên là trời, là Dương, là cha, là vua. Nguyên, hanh, lợi, trình là bốn đức tính: nguyên là muôn vật bắt đầu, hanh là muôn vật lớn lên, lợi là muôn vật được thỏa, trinh là muôn vật đã thành. Chỉ Càn và Khôn có bốn đức tính ấy, còn ở Quẻ khác thì nó tùy việc mà thay đổi đi. Cho nên nguyên là chuyên làm những điều thiện lớn; lợi thì chủ về những sự chính bền; thể của hanh, trinh, việc nào xứng nghĩa của bốn đức tính rộng lớn, lớn thật
03Truyện Chu Hy — luận giải bổ sung
Bản nghĩa của Chu Hy. – Sáu vạch là Quẻ của Phục Hy vạch ra, nét là lẻ, số của khí Dương, chữ Càn là mạnh, tính của khí Dương. Chữ Càn, trong bản chú là tên Quẻ ba nét (quẻ đơn) dưới là quẻ trong, trên là quẻ ngoài. Chữ Càn trong Kinh văn là tên quẻ sáu nét (quẻ kép). Phục Hy ngửa xem, cúi xét, thấy Âm Dương có số lẻ chẵn, cho nên vạch một nét lẻ để hình dung khí Dương, vạch một nét chẵn để hình dung khí Âm; thấy một Âm một Dương lại có cái tượng sinh ra một Âm và một Dương nữa, cho nên từ dưới kể lên, gấp hai lần nữa, mà làm ba nét, cho thành tám Quẻ; thấy tính của khí Dương thì mạnh, mà thành cái hình lớn nhất là Trời, nên những quẻ có ba nét lẻ, đặt tên là Càn mà sánh với Trời. Ba nét đủ rồi, tám Quẻ thành rồi, lại gấp thêm ba lần nữa cho thành sáu nét, mà trên tám Quẻ, mỗi Quẻ lại thêm vào tám Quẻ nữa, cho thành sáu mươi tư quẻ. Quẻ này sáu nét đều lẻ, trên dưới đều Càn, thì là Dương đến thuần túy, mạnh đến cùng tột, cho nên cái tên là Càn, cái tượng là trời, đều không thể đổi. Nguyên, hanh, lợi, trinh là lời của Văn Vương đèo vào, để đoán sự lành dữ của một quẻ, vẫn gọi lời Thoán.
Nguyên nghĩa là cả, hanh nghĩa là thông, lợi nghĩa là nên, trinh nghĩa là chính đính mà bền vững
04Áp dụng vào tình huống thực tế
Cách tự đọc quẻ Càn cho câu hỏi công việc:
- Tìm hoàn cảnh của bạn trong lời Kinh. Lời Kinh và lời Trình Di, Chu Hy ở trên thường tách ra nhiều tình thế, mỗi tình thế một lời khuyên riêng. Đọc lại, tìm câu nói đúng tình thế của bạn nhất, rồi lấy lời khuyên đi kèm câu ấy — đừng lấy một nhịp chung cho mọi trường hợp.
- Đổi lời khuyên thành một bước cụ thể. Nếu lời khuyên là làm sớm, bước cụ thể có thể là hẹn nói chuyện với quản lý ngay trong tuần; nếu là giữ yên, bước cụ thể là chưa nộp đơn, dồn sức làm tốt chỗ hiện tại.
- Những điều quẻ không nói thay bạn: mức lương, người cùng làm, con đường lâu dài. Hãy tự cân những điều ấy bên cạnh lời quẻ.
05Tạm kết
Quẻ Càn không phán định kết quả. Quẻ soi cho người gieo nhìn rõ nhịp của tình huống và tâm thế của chính mình lúc quyết định.
Gieo quẻ Kinh Dịch để xem nhịp quyết định của riêng bạn: tueduyen.net/gieo-que
---
Nội dung Lời Kinh + Truyện Trình Di + Truyện Chu Hy lấy nguyên văn từ kho dữ liệu Kinh Dịch Tuệ Duyên (64 quẻ + Hệ Từ). Đoạn Nikāya (nếu có) trích từ bộ Kinh Nikāya bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu.
