Khi người gieo quẻ đang phân vân trong chuyện tình cảm, các câu hỏi thường gặp:
- mối quan hệ này có nên tiếp tục không?
- đã đến lúc tiến tới hôn nhân chưa?
- có nên dừng lại để tìm hướng khác?
Quẻ Tụy (Tụy 萃) trong Kinh Dịch không trả lời thẳng "nên hay không nên". Quẻ chỉ ra nhịp thích hợp cho hành động — biết nhịp, người gieo tự ra quyết định tỉnh táo.
01Lời Kinh — nguyên văn
Lời Kinh
Văn ngôn:
萃:亨,王假有廟,利見大人,亨,利貞,用大牲吉,利有攸往。
Dịch âm. – Tụy: Hanh, vương cách hữu miếu, lợi kiến đại nhân, hanh, lợi trinh, dụng đại sinh cát, lợi hữu du vãng.
Dịch nghĩa. – Tụy: Hanh thông; vua đến dự lễ ở tông miếu; gặp bậc đại nhân thì tốt; giữ đạo thì hanh thông; dùng lễ vật lớn thì cát; có lợi khi tiến hành việc gì.
02Truyện Trình Di — luận giải truyền thống
Truyện của Trình Di. - Ông vua có đạo tụ họp thiên hạ đến chưng có miếu là tột bậc rồi. Các loài là thứ rất nhiều, mà có thể thống nhất sự quy ngưỡng của chúng, lòng người là thứ không biết nơi đâu là nơi chốn, mà có thể cho họ phải thành kính, quỷ thần là đấng không thể lường biết, mà có làm cho các ngài lại đến, cái đạo tụ họp lòng người, tóm thu chí dân, không phải chỉ có một đường, nhưng trong đó, không gì lớn bằng tôn miếu, cho nên đạo họp thiên hạ của kẻ làm vua, đến chưng có miếu thì tột bậc của sự họp. Việc báo đáp trong cuộc tế tự vốn ở lòng người mà ra, đấng thánh nhân đặt ra lễ nghi để làm cho nên đức ấy, cho nên con chồn, con gái, cũng đều biết tế, tính nó như vậy. Quẻ Tụy có chữ 亨 (hanh), tức là lời khen ngợi, chữ 亨 (hanh) phải ăn xuống dưới, khác với quẻ Hoán. Quẻ Hoán trước nói tài quẻ, quẻ Tụy trước nói nghĩa Quẻ, ý đó coi ở lời Thoán rất rõ.
03Truyện Chu Hy — luận giải bổ sung
Bản nghĩa của Chu Hy. - Tụy nghĩa là hợp, Khôn thuận mà Đoái đẹp lòng, hào Chín Năm cứng giữa mà hào Hai ứng nhau với nó, lại là cái Tượng chằm lên trên đất, muôn vật tụ họp, cho nên là Tụy. Chữ 亨 (hanh) là chữ thửa. “Vua đến có miếu” nghĩa là kẻ làm vua có thể đến trong tôn miếu, tức là là lời Chiêm tốt lành về việc bói tế vậy. Thiên Tế nghĩa (ở Kinh Lễ) nói “Ông đến chưng nhà thái miếu” cũng là nghĩa thế. Miếu là chỗ để họp tinh thần của ông cha, lại, người ta ắt phải họp tinh thần của mình thì mới có thể đến miếu mà vâng ông cha. Người đã họp lại, thì ắt thấy bậc người lớn mà sau có thể được hanh, nhưng lại ắt phải lợi về chính đạo mới được, họp nhau không bằng chính đạo thì không thể hanh. Con sinh lớn ắt phải dùng đến rồi sau mới có sự họp, thì có thể thửa đi. Đều là lời Chiêm tốt lành mà phải có sự răn sợ
04Áp dụng vào tình huống thực tế
Cách tự đọc quẻ Tụy cho chuyện tình cảm:
- Tìm hoàn cảnh của bạn trong lời Kinh. Lời Kinh và lời Trình Di, Chu Hy ở trên thường tách ra nhiều tình thế, mỗi tình thế một lời khuyên riêng. Đọc lại, tìm câu nói đúng tình thế của bạn nhất, rồi lấy lời khuyên đi kèm câu ấy — đừng lấy một nhịp chung cho mọi trường hợp.
- Quẻ không phán người kia hợp hay không hợp với bạn. Quẻ nói về nhịp của mối quan hệ lúc này — đang bồi đắp, đang chững lại, hay cần nhìn lại nền tảng.
- Một việc nên làm trước khi quyết: nhìn lại ba tháng qua, hai người đã thật sự ngồi xuống nói chuyện về tương lai chung bao nhiêu lần. Đừng quyết chuyện lớn (chia tay, cưới) chỉ vì một chuyện đơn lẻ.
05Tạm kết
Quẻ Tụy không phán định kết quả. Quẻ soi cho người gieo nhìn rõ nhịp của tình huống và tâm thế của chính mình lúc quyết định.
Gieo quẻ Kinh Dịch để xem nhịp quyết định của riêng bạn: tueduyen.net/gieo-que
---
Nội dung Lời Kinh + Truyện Trình Di + Truyện Chu Hy lấy nguyên văn từ kho dữ liệu Kinh Dịch Tuệ Duyên (64 quẻ + Hệ Từ). Đoạn Nikāya (nếu có) trích từ bộ Kinh Nikāya bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu.
